Tại sao người chết không nhắm mắt

Chết hay qua đời thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống (không thể phục hồi) của một cơ thể. Tuy nhiên, một định nghĩa cho sự chết còn tùy thuộc vào các quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng cũng như các lĩnh vực liên hệ. Trong y học, Chết là sự Chấm dứt của mọi hoạt động sống như hô hấp trao đổi chất sự phân chia các tế bào đều được chấm dứt vĩnh viễn. Môn khoa học nghiên cứu về cái chết đã trở thành ngành riêng gọi là "tử vong học" (tiếng Anh: thanatology; tiếng Hy Lạp: θάνατολογια thnatologia).

Bạn đang xem: Tại sao người chết không nhắm mắt


*

Cái chết của Marat (La Mort de Marat), họa phẩm của Jacques-Louis David
*

Biểu tượng thần chết cầm lưỡi hái tại Cathedral of Trier, Trier, Đức

Một con khỉ bị tông chết
Phân hủy xác chết ở Tây Úc, 1905.

Người ta chia chết ra làm hai loại: chết lâm sàng mà các phương pháp khám lâm sàng cho phép xác định là chết (tim ngừng đập, ngừng thở, mất tri giác, vv.); Chết thật, khi các mô không còn hoạt động được nữa và bắt đầu phân hủy.<1><2> Những ca tử vong phổ biến ở con người là bệnh tim, tiếp theo là tai biến mạch máu não, và xếp thứ 3 là nhiễm trùng đường hô hấp dưới.<3>

Trong xã hội loài người, bản chất của cái chết và sự nhận thức của con người về cái chết là các mối quan tâm qua hàng thiên niên kỷ của thế giới tôn giáo và triết học. Điều này bao gồm niềm tin vào sự sống lại (liên quan đến tôn giáo Abraham), tái sinh (liên quan đến tôn giáo Dharm), hoặc ý thức rằng vĩnh viễn không còn tồn tại, được gọi là lãng quên theo chủ nghĩa vô thần.<4>


Mục lục


Từ liên quanSửa đổi

Khái niệm và các triệu chứng của cái chết, và mức độ khác nhau của sự tinh tế được sử dụng trong thảo luận đã tạo ra vô số từ nghĩa bóng dùng trong khoa học, pháp lý và xã hội mô tả cái chết. Khi thông báo một người đã chết, có thể nói họ đã qua đời, từ trần, đi xa, hoặc đã mất, ngoài ra còn có rất nhiều từ khác được xã hội chấp nhận, hoặc có các từ khác dùng trong tôn giáo hay tiếng lóng như: Bị tước quyền sống, người chết hết chuyện, về với ông bà, hai năm mươi, về với đất, ngủ với giun v.v... Các từ mô tả việc thối rữa của thịt cũng có thể được sử dụng để nói về cái chết, mặc dù chúng thường được dùng cho các loài động vật mà không phải con người. Để tỏ thái độ lịch sự với một người đã chết, việc dùng từ chết theo nghĩa bóng đã trở thành phổ biến.

Cách diễn đạt sự "chết"Sửa đổi

Trong hầu hết các xã hội, cái chết thường được gắn liền với một số biểu tượng nào đó. Ở nhiều nền văn minh phương Đông, màu trắng là màu của tang lễ; ngược lại, ở phương Tây, màu tang là màu đen, biểu tượng của cái chết là vị thần chết với chiếc lưỡi hái nổi tiếng. Mồ mả cũng là những hình ảnh hoán dụ thường gặp khi đề cập đến cái chết.

Dưới góc độ sinh học, cái chết có thể xảy ra cho toàn bộ cơ thể hoặc chỉ một vài thành phần của cơ thể.Ví dụ, một số tế bào riêng lẻ hoặc thậm chí một vài cơ quan có thể chết, trong khi cơ thể, với tư cách là một tổng thể, vẫn tiếp tục sống. Trong cơ thể sinh vật, rất nhiều tế bào có tuổi thọ rất ngắn so với đời sống của cơ thể, chúng chết đi và được thay thế bởi các tế bào mới - đó là quá trình đổi mới thường xuyên các tế bào, một đặc điểm sinh lý của các cơ thể đa bào.

Ngược lại, khi một cơ thể chết đi, các tế bào của nó chỉ có thể sống thêm một giai đoạn ngắn. Các cơ quan có thể được lấy ra khỏi cơ thể để thực hiện việc ghép tạng - trong trường hợp này, tạng được ghép phải nhanh chóng đem ghép, nếu không nó sẽ chết do không được cung cấp các chất cần thiết để duy trì hoạt động sống. Trong một số hiếm các trường hợp, tế bào có thể "bất tử", chẳng hạn dòng tế bào Hela (tức Henrietta Lacks, một bệnh nhân đã hiến các tế bào của cơ thể mình cho khoa học).

Tóc và móng có vẻ mọc dài thêm sau khi chết, thật ra, khi xác chết bị mất nước (bắt đầu "khô đi"), mô mềm co rút lại làm lộ ra phần tóc và móng chưa mọc.<5> Thời cổ đại, chuyện này khiến người ta xác định nhầm lẫn thời điểm chết thật sự, và thêu dệt thêm vào đó để thành các truyền thuyết về ma cà rồng.

Tính không thể đảo ngược thường được xem là tính chất chủ yếu của sự chết. Theo định nghĩa, một cơ thể chết không thể sống lại; nếu có chuyện chết đi sống lại (hồi sinh), điều đó có nghĩa là lần đó không phải là chết. Tuy nhiên, nhiều người không tin rằng cái chết nhất định là không đảo ngược được; bằng tín ngưỡng, họ cho rằng có sự phục sinh của linh hồn, thậm chí của thể xác. Một số người khác còn hi vọng vào một viễn cảnh trong đó nhờ vào sự giữ đông xác chết và các phương tiện kỹ thuật khác, người chết có thể được làm sống lại trong tương lai.

Có giả thuyết cho rằng tuổi thọ hạn chế của sinh vật là một hệ quả của quá trình tiến hóa. Ở hầu hết các loài, tự nhiên đã không cho sinh vật một tuổi thọ cực cao, thay vào đó, tiến hóa đã tập trung vào sự sinh sản; sau khi thực hiện chức năng duy trì nòi giống, ngoại trừ vì lý do bảo vệ con, cuộc sống của một cá thể sinh vật không có ý nghĩa mấy trong sự trường tồn của dòng gen của nó. Một lối giải thích phổ biến khác là theo nguyên lý thứ hai của nhiệt động học, tất cả các hệ thống phức tạp cuối cùng đều phải tan rã, do đó không loài nào có thể bất tử được. Tuy nhiên, nguyên lý này chỉ áp dụng được cho các hệ kín, trong khi cơ thể sinh vật lại là những hệ mở.

Xem thêm: Tại Sao Up Video Lên Facebook Bị Mờ, Giảm Chất Lượng, Mất, Cã¡Ch ÚP Áº¢Nh

Trong thế giới động vật, loài sứa Turritopsis nutricula không bao giờ biết đến cái chết là gì.


Những cách gọi tên về "sự chết"Sửa đổi

Như là một đặc trưng của tiếng Việt, ngôn từ chuyên chở cả thái độ, tình cảm của người nói, nên để nói về cái chết,, Nhà nghiên cứu Bằng Giang đã khẳng định thống kê được hơn 1.001 cách diễn đạt về từ chết.<6> dưới đây chỉ liệt kê một số:

Kính trọng: từ trần, tạ thế, khuất núi, quy tiên, yên nghỉ muôn đời, qua đời, mất, đi xa, ra đi, ra đi vĩnh viễn, ra đi mãi mãi, yên nghỉ, từ giã cõi đời, trút hơi thở cuối cùng, "thôi đã thôi rồi", thác, quyên sinh, băng hà (dùng cho vua chúa), hi sinh, ngã xuống, nằm xuống, nằm lại, tử trận, tuẫn tiết, vị quốc vong thân (vì nước mà chết), thịt nát xương tan, rơi đầu (trong chiến đấu), không còn nữa, về với tổ tiên, về cùng cha ông, về nơi an nghỉ cuối cùng, về nơi cửu huyền, về nơi chín suối, chết đứng (còn hơn sống quỳ), tôi ra đi lần cuối, làm ma nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc, viên tịch (đối với các nhà sư),...Kiêng kị: vĩnh biệt, trăm tuổi già, đi (ra đi), sang bên kia thế giới, tim của... đã ngừng đập, giấc ngủ vĩnh viễn, đi vào giấc ngủ ngàn thu, an giấc ngàn thu, trở thành người thiên cổ, ngày không còn..., đi vào dĩ vãng,...Tín ngưỡng, tôn giáo: viên tịch (Tăng sĩ Phật giáo), vãng sanh Cực Lạc, về An Dưỡng quốc (cõi Cực Lạc), cao đăng Phật quốc, vãng sanh Tịnh Độ, về gặp Phật được Phật Thọ ký (xoa đỉnh đầu), từ giã Ta-bà sinh lên Tịnh Độ, về với Chúa, về nhà Cha (về nước Chúa), Chúa gọi về, được Chúa truyền ra khỏi đời này về với Chúa, hẹn gặp lại trong Nước Trời, quy tiên, về trời, thăng thiên, hồn lìa khỏi xác, hóa kiếp, mãn phần, xuống suối vàng, trở về với cát bụi, chết không nhắm mắt, từ đất mà ra sẽ về với đất, về với đất mẹ,...Trung lập: chết, qua đời, tử vong, thiệt mạng, tử (Hán-Việt), tắt thở (chết lâm sàng), chết tốt, bị giết, bị diệt, bất đắc kỳ tử, đột tử, chết ngay, chết non, chết yểu, chết trẻ, chết già (theo độ tuổi), chết đuối, chết chìm, chết cháy, chết ngột, chết ngạt, chết đói, chết bệnh, chết bất đắc kỳ tử (theo nguyên nhân), chết chùm, chết oan, chết ngay tại chỗ...Thân phận: lìa đời, về với đất, chầu ông bà (vải), chầu trời, chầu tổ tiên, chầu Diêm vương (Diêm chúa), tuyệt mệnh (mạng), tới số, hết số, gan óc lầy đất, da ngựa bọc thây, đầu lìa khỏi cổ, nhắm mắt xuôi tay, xuống lỗ, xanh cỏ, đi gặp cụ Các Mác và cụ Lê-nin, (thà) làm ma nước Nam, (nguyện) làm ma họ (...), lên bàn thờ ăn xôi...Không tôn trọng: lụm, rồi đời, xong đời, ngoẻo, ngủm, ngủm củ tỏi, ngủm cù đèo, tiêu, tiêu đời, toi đời, tiêu tán đường, toi mạng, lên đường, ăn đất, đi đứt, đi toi, đứt bóng, vào hòm, vào xăng, vào 6 tấm váng, xuống mồ, đi đời, đi đời nhà ma, đi tong, rũ xương, đền tội, đền mạng (có ân oán), tan xương nát thịt, vong mạng, bỏ mạng, bỏ xác (trong chiến đấu), chết tươi, chết toi, chết bằm, chết trôi, lên bàn thờ, lên bàn thờ ngồi chơi, đi buôn muối, chết không toàn thây, chết không kịp ngáp (tình trạng chết), "đai" (tiếng lóng của từ die), ngồi lên bàn thờ ngắm gà khỏa thân, "RIP" (Rest In Peace) (không có sự tôn trọng khi dùng để đùa giỡn, nhưng ý nghĩa thực sự của R.I.P là sự tôn trọng đối với cái chết), đi Văn Điển, vô Bình Hưng Hòa, hít khói trên bàn thờ, đi bán muối, đi đắp chiếu, hẻo, hẹo...

Định nghĩa cái chết trong lĩnh vực y học, tôn giáo và pháp lýSửa đổi

Cái chết của con người có thể được định nghĩa bởi ba lĩnh vực khác nhau nhưng cũng chồng lấn lẫn nhau: y học, tôn giáo và pháp lý. Cả ba lĩnh vực đã phát triển rất nhiều theo thời gian và ý nghĩa của từng lĩnh vực đó đối với từng cá nhân cũng khác nhau. Do đó, khi bàn về cái chết, điều quan trọng là phải xác định rõ là cái chết đang được xem xét dưới dưới góc độ nào, cũng như cần phải có một kiến thức tổng quát về cách nhìn nhận cái chết của mỗi cá nhân.

Trong y học, có nhiều định nghĩa khác nhau về cái chết. Ở phương Tây trước đây, sự chết đã được gắn với tim và sau đó là phổi. Khi tim và phổi của một người ngừng hoạt động, người đó được xem là đã chết. Về sau, não được đưa vào định nghĩa. Năm 1963, điện não đồ (EEG) được phát minh, phương tiện này có khả năng đo rất chính xác các dòng điện phát ra từ não. Nếu máy điện não đồ ghi nhận một dòng điện bằng không (nói cách khác là một EEG phẳng) trong 36 giờ, người bệnh có thể được xem là đã chết. Hiện nay, chúng ta biết rằng về mặt y học, một người còn sống nếu thân não của người đó chưa chết. Nhiều người bị rơi vào đời sống thực vật, thân não của họ vẫn còn hoạt động.

Về mặt pháp lý, có ba cách khác nhau để tuyên bố rằng một người đã chết. Thông thường nhất là việc xác nhận cái chết bởi một bác sĩ. Cách thứ hai là xác nhận bởi một nhân viên điều tra hay chuyên viên khám nghiệm y khoa của nhà nước. Cách thứ ba là tuyên bố chết bởi các tòa án: sau khi một người bị mất tích một thời gian nhất định, tòa án có thể tuyên bố rằng người đó đã chết và tài sản của người chết sẽ được phân chia theo luật định. Giấy chứng tử là một văn bản nêu ra thời điểm, tính chất của cái chết cũng như tên và chức năng người chứng nhận cái chết đó.

Theo quan điểm tôn giáo, sự chết được tin là do linh hồn rời khỏi thể xác. Nhiều thí nghiệm đã được đặt ra nhằm xác định khi nào thì hồn rời khỏi xác, chẳng hạn người ta cân cơ thể trước và sau khi chết (linh hồn, nếu có, biết đâu cũng có một trọng lượng nào đó).